Top 8 Bài văn phân tích nhân vật ông Sáu trong “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng

13-07-2020 8 61678 0 0

Báo lỗi

Khi viết về đề tài chiến tranh, những tác giả bộc lộ hết những suy nghĩ của tôi bằng phương pháp mô tả chân thực nhất, cảm xúc nhất. Hình như mỗi một mẩu chuyện trong thời chiến đều mang cho ta những dư vị không thể nào quên. Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng là một trong số những truyện như thế. Truyện tôn vinh tình cảm gia đình, cụ thể là tình phụ tử thiêng liêng, sâu nặng của cha con ông Sáu, được thể hiện tuy giản dị mà đầy xúc động bất ngờ. Mời những bạn đọc tìm hiểu thêm một số bài văn phân tích nhân vật ông Sáu mà Toplist tổng hợp trong bài viết sau để thấy rõ hơn điều đó.

12345678

1


Bình An

Bài văn phân tích nhân vật ông Sáu trong “Chiếc lược ngà” số 1

“Chiếc lược ngà“ là truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết về tình cha – con và nỗi đau trong chiến tranh do quân giặc gieo rắc thời chống Mĩ. Ông Sáu là một trong những nhân vật thể hiện sâu sắc chủ đề ấy.

Ông Sáu, một nông dân Nam Bộ giàu lòng yêu nước đã tham gia hai cuộc kháng chiến (đánh Pháp và đánh Mĩ), và đã anh dũng hi sinh. Ra đi đánh giặc từ năm 1946 mãi đến năm 1954, hòa bình lập lại, ông mới được về thăm quê một vài ngày. Ngày ra đi bộ đội, đứa con gái bé xíu thân yêu của ông mới lên một tuổi, ngày về thì con đã 8, 9 tuổi.

Cái khao khát của một người lính sau những năm dài vào sinh ra từ được quay về quê, được hội ngộ vợ con, được nghe con cất tiếng gọi “ba” một tiếng cũng không trọn vẹn! Đó là thảm kịch thời chiến tranh. Lúc chia tay vợ con lần thứ hai để bước vào một trận đánh đấu mới, ông mới được một khoảnh khắc hạnh phúc khi đứa con gái ngây thơ “nhận thấy” ba mình và kêu thét lên: “Ba… ba!”. Ông ôm con “rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc con”.

Ông Sáu đã ra đi với nỗi nhớ thương vợ con không thể nào kể xiết. Bom đạn giặc đã làm thay đổi hình hài ông. Vết thẹo dài trên má phải – vết thương chiến tranh – đã làm cho đứa con gái thương yêu, bé xíu không nhận thấy bóng dáng người cha nữa! Ông đã ra đi, mang theo như hình ảnh vợ con, với lời hứa mang về cho,con gái chiếc lược cùng với nỗi ân hận day dứt “sao mình lại đánh con” cứ giày vò ông mãi.

Nỗi đau, nỗi nhớ thương và mất mát… do quân giặc mang đến cho ông Sáu, cho bao người lính, cho bao bà mẹ, em thơ trên khắp mọi miền giang sơn ta có khi nào nguôi! Sự hi sinh của thế hệ đi trước để làm nên độc lập, thống nhất, dân chủ, hòa bình là vô giá.

Sau năm 1954, ông Sáu không triệu tập ra Bắc, ông nhận nhiệm vụ mới ở lại miền Nam “nằm vùng“ hoạt động bí mật. Trong những ngày ở rừng, ở cứ bị giặc ruồng bố triền miên. Thiếu gạo phải ăn bắp. Gian khổ và nguy hiểm. Cái chết bủa vây trận đánh đấu thầm lặng. Ông Sáu vẫn không nguôi nhớ vợ con. Ông đã biến vỏ đạn 20 li của giặc Mỹ thành chiếc cưa nhỏ, đã tỉ mỉ, kiên nhẫn và khéo léo như một người thợ bạc chế tác khúc ngà voi thành một chiếc lược ngà xinh xắn có khắc dòng chữ: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”.

Chiếc lược ngà với dòng chữ ấy mang theo bao tình cảm sâu nặng của người cha đối với đứa con bé xíu. Tình thương con của ông Sáu thật cực kì tha thiết. Điều đó cho thấy, ông Sáu cũng như hàng triệu chiến sĩ, đồng bào ta hi sinh chiến đấu vì giang sơn và dân tộc, vì hạnh phúc gia đình, vì tình vợ ông xã, tình cha con.

Chiếc lược ngà như một vật kí thác thiêng liêng của người lính về tình phụ – tử sâu nặng mà bom đạn quân thù không thể nào tàn phá được. Chính vì thế, khi bị trúng đạn máy bay Mỹ bắn vào ngực, lúc hấp hối, ông “đưa tay vào bên trong túi, móc cái lược đưa cho bạn, nhìn bạn hồi lâu rồi tắt thở… ông Sáu đã hi sinh trong những ngày đen tối vì gian khổ. Ngôi mộ ông là “ngôi mộ bằng giữa rừng sâu”. Nhưng chỉ có “tình cha con là không thể chết được!”.

Hình ảnh ông Sáu, hình ảnh người cha trong truyện “Chiếc lược ngà“ sâu nặng về tình cha – con. Chiếc lược ngà với dòng chữ mãi mãi là kỉ vật, là nhân chứng về nỗi đau, về thảm kịch đầy máu và nước mắt đã để lại nhiều ám ảnh bi thương trong lòng ta. Ông Sáu là người lính của một thế hệ anh hùng đi trước mở đường đã nếm trải nhiều thử thách, gian khổ và hi sinh.

Truyện “Chiếc lược ngà” và hình ảnh ông Sáu đã khơi gợi trong lòng ta bao ý nghĩa sâu sắc về sự hi sinh và hạnh phúc ở đời do những thế hệ cha anh đã đổ xương máu làm nên. Và bài học “uống nước nhớ nguồn” càng thêm thấm thía.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)


2


Bình An

Bài văn phân tích nhân vật ông Sáu trong “Chiếc lược ngà” số 2

Ông cha ta vẫn thường có câu:

Công cha như núi ngất trời

Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển đông

Quả thực công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ là trời biển, cả đời này những người con cũng không thể báo đáp hết. Trong bất kì thời điểm nào, tình cảm phụ tử cũng thật thiêng liêng và đáng trân trọng. Và đặc biệt là trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, tình cảm ấy như một viên ngọc quý, sáng ngời. Và toàn bộ thứ tình cảm thiêng liêng ấy, đã được Nguyễn Quang Sáng dồn tụ trong nhân vật ông Sáu với tác phẩm Chiếc lược ngà.

Trong thời đại kháng chiến vĩ đại, ông Sáu cũng như bao thanh niên khác, theo tiếng gọi tổ quốc lên đường nhập ngũ. Lập gia đình không được bao lâu, ông Sáu đã lên đường, còn vẫn chưa kịp nhìn đứa con gái yêu quý của tôi. Những ngày ở chiến khu lòng ông lúc nào cũng đau đáu nhớ về gia đình và bé Thu. Ba ngày nghỉ phép như một phép màu, giúp ông thỏa nỗi nhớ quê, đặc biệt là được gặp đứa con thân thương của tôi.

Lòng ông háo hức hồi hộp, trên chiếc xuồng mắt ông dõi về hướng nhà mình, và khi xuồng vẫn chưa cập bến ông đã vội nhảy lên bờ. Lòng ông hồ hởi, hạnh phúc, ông đã mong chờ giây phút gặp con này biết bao lâu rồi. Tiếng gọi con vừa nồng nàn, vừa êm ấm, chỉ hai tiếng “Thu! Con!” mà chất chứa biết bao tình yêu thương ông giành cho bé Thu.

Nhưng trái ngược với dòng tình cảm nồng cháy của ông, bé Thu lạnh nhạt, sợ hãi quay đầu bỏ chạy. Bé Thu không nhận thấy anh, nó như một nhát dao cứa vào trái tim anh Sáu, anh lắp bắp gọi con, vết thẹo ở má đỏ ửng lên, con bé vụt bỏ chạy, anh đau đớn khôn cùng, “hai tay buông xuống như bị gãy”. Trông anh cực kì đáng thương. Có lẽ anh Sáu cũng hiểu phần nào phản ứng của bé Thu với mình, nhưng với thân phận một người cha làm sao anh hoàn toàn có thể không đau đớn, xót xa.

Ba ngày nghỉ phép ở nhà, là thời điểm hiếm có để anh đi thăm bà con, hỏi han họ hàng, nhưng anh dành riêng ba ngày đó cho đứa con yêu của tôi. Anh quanh quẩn bên nó với chỉ một mong muốn duy nhất, bé Thu nhận thấy cha và gọi anh là ba. Cái điều mà những tưởng người ta chẳng cần ước, nhưng anh dành cả tâm sức, thời gian mà bé Thu vẫn không hề lay chuyển.

Đặc biệt trong bữa cơm, bé Thu càng tỏ ra ương ngạnh, bướng bỉnh hơn, đỉnh điểm là khi anh gắp cái trứng cá vào bát nó, Thu đã hất miếng trứng đi. Vừa giận, vừa đau đớn, anh Sáu không thể kiềm chế bản thân mà đã vung tay đánh bé Thu. Không nói ra nhưng chúng ta cũng hoàn toàn có thể hiểu rằng, đằng sau phút giây nóng giận ấy là trái tim tràn đầy tình yêu thương, là khao khát cháy bỏng nhận được một cử chỉ, một lời yêu thương từ đứa con.

Mọi sự cố gắng của ông Sáu đã được đền đáp. Trong giờ khắc sau cùng của cuộc chia tay, bé Thu đã nhận được ra anh. Niềm hạnh phúc, sự sung sướng, cảm động đã kết đọng thành giọt nước mắt đầy yêu thương. Dù thời gian của hai cha con cực kì ngắn ngủi, nhưng anh cũng đã cảm nhận được hết tình yêu thương con giành cho mình. Tình yêu thương đó cũng là động lực để anh chắc tay súng, bảo vệ quê và trở về bên con.

Những ngày ở chiến khu tình yêu thương của anh giành cho bé Thu được bộc lộ mạnh mẽ và sâu sắc nhất. Anh luôn ân hận, dày vò bản thân vì đã lỡ đánh con. Nhớ những lời bé Thu dặn anh đã tìm cho được chiếc ngà. Anh thận trọng, tỉ mỉ, cố công như một người thợ bạc để cưa từng chiếc răng lược rồi gò lưng tẩn mẩn khắc từng nét chữ “Yêu nhớ tặng Thu, con của ba”. Anh làm chiếc lược bằng toàn bộ tình yêu thương giành cho con.

Nhưng anh Sáu vẫn chưa kịp trao cho con chiếc lược ngà đã hi sinh trong một trận càn lớn của giặc. Nhưng hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, dù không đủ sức để trăng trối lại bất kể điều gì, nhưng ông Sáu đã thu hết chút lực tàn để lấy cây lược đưa cho người đồng đội của tôi trao cho bé Thu. Dù không một lời nói ra, nhưng nó cực kì thiêng liêng, bởi đây là ước nguyện sau cùng, ước nguyện của tình phụ tử cao quý, thiêng liêng, sâu sắc.

Với việc lựa chọn ngôi kể tương thích, bác Ba người thân thiết gần gũi bên cạnh ông Sáu đã giúp cho mẩu chuyện trở thành chân thực, đáng tin cậy. mẩu chuyện về tình phụ tử thiêng liêng trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt càng cho thấy rõ hơn những nỗi đau mà chiến tranh gây ra đối với con người. Nhưng cao quý hơn, đó đó là tình cảm phụ tử thiêng liêng, bất diệt.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

3


Bình An

Bài văn phân tích nhân vật ông Sáu trong “Chiếc lược ngà” số 3

“Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng là một truyện ngắn viết về tình phụ tử sâu nặng của cha con ông Sáu sau chiến tranh. Đây là một truyện ngắn giản dị nhưng chứa đầy sức bất ngờ. Đoạn trích trong SGK Ngữ Văn 9 đã cho thấy một khoảnh khắc nhỏ mà Trong số đó có sự cao quý thiêng liêng về tình phụ tử.

Tình cảm của anh Sáu giành cho bé Thu trở thành mãnh liệt hơn, cao quý, thiêng liêng và cảm động hơn khi nào hết là việc anh tự tay làm chiếc lược ngà cho con gái. “Ba về! Ba mua cho con một chiếc lược nghe ba!”, đó là mong ước đơn sơ của đứa con gái bé xíu trong giây phút cha con từ biệt. Nhưng đối với người cha ấy, đó là mong ước thứ nhất và cũng là duy nhất cho nên nó cứ thôi thúc trong lòng.

Kiếm cho con cây lược trở thành bổn phận của người cha, thành tiếng gọi cầu khẩn của tình phụ tử trong lòng. Anh bật dậy như bỗng loé lên một sáng kiến lớn: làm lược cho con bằng ngà voi. Có lẽ không đơn thuần vì ở rừng rú chiến khu, anh không thể mua được cây lược nên làm lược từ ngà voi là một cách khắc phục khó khăn. Mà cao hơn thế, sâu hơn thế, ngà voi là thứ quí hiếm – chiếc lược cho con của anh phải được làm bằng thứ quý giá ấy.

Và anh không muốn mua, mà muốn tự tay mình làm ra. Anh sẽ đặt vào trong đấy toàn bộ tình cha con của tôi. tìm được ngà voi, mặt anh “hớn hở như một đứa trẻ được quà”. Vậy đấy, khi người ta hóa thành con trẻ lại đó là lúc người ta đang hiện lên cái tư cách người cha cao quý của tôi. Rồi anh “ngồi cưa từng chiếc răng lược, thận trọng tỉ mỉ và khổ công như người thợ bạc”, “gò lưng tẩn mẩn khắc từng chữ: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”.

Anh thường xuyên “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng thêm mượt”. Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ trở thành một nghệ nhân – nghệ nhân chỉ sáng tạo ra một tác phẩm duy nhất trong đời cho nên chiếc lược ngà đã kết tinh trong nó tình phụ tử mộc mạc mà đằm thắm sâu xa, đơn sơ mà kỳ diệu làm sao!

Nhưng ngày ấy đã vĩnh viễn không khi nào đến nữa. Anh không kịp đưa chiếc lược ngà đến tận nơi cho con thì người cha ấy đã hi sinh trong một trận đánh lớn của giặc. Nhưng “hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”. không thể đủ sức trăng trối điều gì, toàn bộ tàn lực sau cùng chỉ còn cho anh làm được một việc “đưa tay vào bên trong túi, móc cây lược” đưa cho người bạn chiến đấu thân thiết và cứ nhìn bạn hồi lâu.

Nhưng đó là điều trăng trối không lời, nó rõ ràng là thiêng liêng hơn cả một lời di chúc, bởi đó là sự uỷ thác, là ước nguyện sau cùng của người bạn tri kỷ, ước nguyện của tình phụ tử! Bắt đầu từ giây phút ấy, chiếc lược ngà của tình phụ tử đã biến người đồng đội thành một người cha – người cha thứ hai của cô nàng Thu.

những bạn ạ! Trong những ngày đen tối ấy, người sống phải sống bí mật cũng đã đành một lẽ còn người chết cũng phải chết bí mật nữa. Mộ của anh không thể đắp cao lên được, vì tìm thấy mồ mả bọn chúng sẽ đào lên và tìm ra dấu vết, cho nên ngôi mộ của anh là ngôi mộ bằng, bằng phẳng như mặt rừng vậy.

Bác Ba bạn của anh đã lấy dao khắc vào một gốc cây rừng cạnh chỗ anh nằm làm dấu cho dễ nhớ. Sống như thế và chết như thế hỏi vậy làm sao mà chịu được. Chúng ta buộc phải cầm súng. Và bé Thu không thể là cô nàng ngày xưa nữa mà là một cô giao liên thông minh, quả cảm. Thu đi theo con đường mà ba cô đã chọn. Thu đi để trả thù cho quê, cho cha mình đã bị bọn giặc giết hại.

Tuy anh Sáu đã hi sinh nhưng mẩu chuyện vè hai cha con anh sẽ còn sống mãi. Hình ảnh chiếc lược ngà với dòng chữ sẽ mãi là kỉ vật, là nhân chứng về nỗi đau, thảm kịch của chiến tranh. Cảm ơn nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã khắc hoạ rõ nét tâm hồn, tình cảm của anh Sáu và bé Thu. Truyện dẫn người đọc dõi theo số phận và lòng quả cảm, dõi theo tâm tình của cha con một người chiến sĩ ra mắt hàng chục năm trời đi qua hai trận đánh tranh.

Người còn, người mất nhưng kỉ vật, gạch nối giữa cái mất mát và sự tồn tại của chiếc lược ngà vẫn còn đấy đấy đây. Đây là minh chứng đối với chúng ta “cái mất mát lớn nhất mà thiên truyện ngắn đề cập đến là người đã khuất, là tổ ấm gia đình không thể tồn tại trọn vẹn trong thực tại. Đó là tội ác, là những đau thương, mất mát của chiến tranh xâm lược mà những thế hệ bạo tàn gây ra cho chúng ta.

Song cái được mà chúng ta nhìn thấy là không tồn tại sự bi luỵ xảy ra, sức mạnh của lòng căm thù đã biến cô nàng Thu trở thành một người chiến sĩ thông minh, dũng cảm, đã gắn bó cuộc đời con người có ít nhiều mất mát xích lại gần nhau để cùng đứng lên viết tiếp bản ca thành công.

Gấp sách lại, chia tay với ông Ba, mẩu chuyện về “Chiếc lược ngà” với lời nói sau cùng của ông – giọng trầm ấm khoan thai – cứ âm vang mãi trong bạn đọc chúng ta, như sự âm vang của một truyện cổ tích. Truyện cổ tích hiện đại đó đã thành công trong việc tạo tình huống truyện, mô tả tâm lý, tình cảm nhân vật và giọng kể nhẹ nhàng, thấm thía truyền cảm.

Ông Ba – người kể chuyện – hay đó là nhà văn Nguyễn Quang Sáng? Phải là người từng trải sống hết mình vì công cuộc kháng chiến của quê, gắn bó máu thịt với những con người quê giàu tình nghĩa, rất nhân hậu mà kiên định, bất khuất, bất diệt, nhà văn mới nhập được vào những nhân vật, sáng tạo được nhiều hình tượng, chi tiết sinh động, bất ngờ, có được giọng văn dung dị và cảm động như vậy.

Đồng thời truyện đã làm sống lại quãng thời gian giữ nước để trải qua đó tác giả muốn người đọc phải suy nghĩ và thấm thía nỗi đau, sự mất mát mà chiến tranh mang đến. Tình cảm cha con sâu sắc của cha con ông Sáu đã vượt qua bom đạn của chiến tranh để ngày càng thiêng liêng, ngời sáng và gắn bó chặt chẽ với tình yêu quê, giang sơn.

Qua cuộc đời nhân vật, từ cô nàng Thu đến ông Sáu, ông Ba, Nguyễn Quang Sáng như muốn nói rằng trong cuộc kháng chiến gian khổ chống ngoại xâm vừa mới qua của dân tộc ta, tình nghĩa con người Việt Nam, nhất là tình cha con, đồng đội, sự gắn bó thế hệ già với thế hệ trẻ, người chết và người sống… mãi mãi bất diệt. Như chiếc lược ngà ba tặng lại không khi nào hoàn toàn có thể mất, tình cha con của bé Thu cũng sẽ mãi mãi bất diệt!

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

4


Bình An

Bài văn phân tích nhân vật ông Sáu trong “Chiếc lược ngà” số 4

Văn học từ cổ chí kim luôn tồn tại một mạch nguồn xuyên suốt, đó là tình cảm thiêng liêng giữa cha mẹ và con cái. Đã có biết bao khúc ca êm ấm vang lên như sự tri ân của những người con giành cho cha mẹ. “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng cũng là một bài ca đẹp về tình phụ tử thiêng liêng, sâu nặng, bao năm qua luôn là một tiếng ngân sâu lắng trong lòng độc giả Việt Nam.

“Chiếc lược ngà” là mẩu chuyện về tình cha con sâu nặng, tha thiết của ông Sáu và cô con gái tên Thu. Một mẩu chuyện đẹp nhưng buồn, có sức lay động sâu xa, gợi lên trong lòng độc giả bao thế hệ nỗi niềm xót xa, thương cảm, day dứt khôn nguôi về chiến tranh và sự tàn phá của nó. Những ám ảnh ấy như khắc sâu vào tâm khảm mỗi người, khiến ta thấm thía hơn sự hi sinh của những người chiến sĩ của một thời chiến tranh gian khổ và ta biết yêu kính hơn, trân trọng họ hơn.

Bằng lời văn dung dị, nhẹ nhàng, nhiều âm vang với những cung bậc cảm xúc không giống nhau, nhà văn đã thể hiện thật sâu sắc và cảm động tình cảm cha con giữa ông Sáu và bé Thu. Phải chăng sức nặng của những ám ảnh đó đó là bởi tình phụ tử thiêng liêng, sâu nặng toát ra từ mỗi lời văn, va đập vào trái tim độc giả, lắng đọng và day dứt mãi không thôi?

Ngay từ đầu mẩu chuyện, người đọc đã hoàn toàn có thể cảm nhận sâu sắc tình yêu con tha thiết của ông Sáu. Người lính đã trải qua khói lửa chiến tranh, gió sương núi rừng, có một khuôn mặt lạnh, một ý chí thép nhưng trái tim người cha trong ông thì vẫn ấm nóng. Vì vậy mà, mới chỉ nghĩ đến việc được gặp con thôi, ông đã thấy “nôn nao mãi“.

Hành động vội vàng: “không thể chờ xuồng cập lại bến, anh nhún chân nhảy thót lên, xô chiếc xuồng tạt ra”, “bước vội vàng với những bước chân dài, rồi dừng lại, kêu to: “Thu ! Con” đã khắc họa rõ nét nỗi lòng khao khát, mong mỏi của người cha. Tiếng gọi con lần đầu như vỡ oà trong tình yêu quá lớn bị dồn nén bao năm. Hình ảnh “vết thẹo dài trên má phải đỏ ửng lên, giần giật…” là biểu lộ của sự xúc động tột độ.

Tiếng xưng “ba” sau bao ngày nhớ mong, mòn mỏi, vừa muốn vỡ oà, vừa lại như bị dòng cảm xúc quá lớn kìm xuống, khiến nó nghẹn lại trong “giọng run run”: “Ba đây con”. Nhưng chính nỗi mong mỏi, niềm hạnh phúc, mong chờ quá lớn ấy lại khiến ông đau đớn bội phần khi đứa con gái không đáp lại sự vồ vập của ông, “mặt nó tái đi, rồi vụt chạy”. Cả bầu trời như sụp xuống trước mắt người cha. Niềm đau, sự hụt hẫng bóp nghẹt trái tim ông. Ông “đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”.

Không nản lòng, trong ba ngày ở nhà, ông Sáu dành hết tình cảm cho bé Thu. Ông ân cần, nhẹ nhàng chăm chút con bé. trước việc cự tuyệt, bướng bỉnh của cô con gái, người cha ấy vẫn hết sức bền chắc, nhẫn nại. Đó là sự bao dung của một người làm cha, của nỗi niềm khao khát “mong được nghe một tiếng gọi ba của con gái”. Và rồi, khi tình cảm quá lớn lại gặp phải sự cự tuyệt kiên quyết của bé Thu, nó như bị thúc ép, khiến ông không giữ được bình tĩnh “vung tay đánh mạnh vào mông” con bé và hét lên: ‘‘Sao mày cứng đầu quá vậy ?”.

Ông Sáu đánh con vì tức giận, đau đớn và bất lực. Thời gian ông hoàn toàn có thể ở bên con không thể nhiều, vậy mà con bé vẫn không chịu thừa nhận ông. Hành động đánh con của ông là một sự kìm nén của nỗi lòng mong mỏi quá lớn. Nhưng cũng chính điều đó đã giày vò tâm trí ông, trở thành mối khổ tâm suốt những năm tháng sau này khi phải xa con.

Vào thời khắc sau cùng được ở nhà, được nhìn thấy con gái, trái tim của người cha đã được xoa nhẹ khi bé Thu nhận thấy ba. Lúc chia tay, ông Sáu cố nén lòng, kìm giữ cảm xúc của tôi. Ông “cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng cũng lại sợ nó giãy lên, lại bỏ chạy, nên anh chỉ đứng nhìn nó“. chỉ việc nhìn thấy sự hiện diện của con thôi, ông cũng cảm thấy được an ủi phần nào.

Và bao nhiêu tình yêu ông dồn cả vào ánh nhìn nhìn con – “đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu“. ánh nhìn ấy vừa muốn bộc lộ hết tình yêu tha thiết với con, vừa thể hiện nỗi khao khát bị kìm nén, nỗi buồn của sự chia xa và cả nỗi đau của sự bị khước từ. Để rồi, toàn bộ như vỡ òa theo tiếng gọi “ba” bất ngờ của bé Thu: “Ba… a… a… ba !”.

Tiếng gọi ông Sáu khao khát, trông chờ, tưởng chừng mòn mỏi bao lâu đã vang lên, khiến tim ông như muốn vỡ ra vì hạnh phúc. Người đọc như cũng lạc nhịp tim trong giây phút âm thanh yêu thương ấy cất lên. Ông Sáu “không ghìm được xúc động”, “một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt”. Những dòng nước mắt tuôn trào từ trái tim yêu thương cháy bỏng của người cha.

hoàn toàn có thể nói, Nguyễn Quang Sáng đã thật tài tình khi xây dựng nhân vật ông Sáu. Toàn bộ mẩu chuyện về người chiến sĩ ấy đều gắn với sự bộc lộ tình yêu con. Từ những hành động đến những chi tiết mô tả ngoại hình, tâm trạng. Vì thế mà trong tâm trí người đọc, hình ảnh ông Sáu hiện lên với tình yêu con thiết tha, sâu nặng. Những ngày ở chiến trường, tình yêu con được ông Sáu dồn vào việc làm cây lược tặng con.

Dõi theo quy trình làm chiếc lược của ông Sáu, từ vẻ mặt “hớn hở” khi nhặt được khúc ngà đến khi tỉ mỉ ngồi giũa cây lược “như người thợ bạc”, ta hoàn toàn có thể cảm nhận được tình yêu sâu nặng của ông. Dòng chữ khắc trên cây lược “yêu nhớ tặng Thu con của ba‘’ thể hiện trọn vẹn nỗi lòng người cha đối với cô con gái ngàn lần dấu yêu nơi quê nhà. Chiếc lược ngà ấy đã “gỡ rối đi phần nào tâm trạng” của ông.

Lời hứa của ông đối với con đã thành hiện thực. Chiếc lược là chỗ dựa tinh thần mỗi khi ông nhớ con. Đó là kỉ vật sau cùng lưu giữ tình yêu sâu nặng của ông Sáu giành cho con, ông khao khát được tận nơi trao cho con gái. Sự khốc liệt của trận đánh tranh đã khiến nguyện ước của ông không thành nhưng cây lược sẽ là minh chứng cho tình yêu con của ông.

Tình yêu của ông Sáu giành cho con thật sâu sắc. Bao cung bậc cảm xúc của ông được người đọc thấu cảm, sẻ chia. Trong chiến tranh, có những việc tưởng chừng rất bình dị như nghe một tiếng con gọi “ba”, tự tay tặng cho con một món quà nhỏ, được ôm con trong vòng tay,… cũng trở thành mơ ước của rất nhiều người và cũng rất nhiều người trong số họ giống như ông Sáu đã không triển khai được ước nguyện đó. Nhưng cũng chính trong sự khốc liệt của chiến tranh, tình cảm tha thiết, trái tim ấm nóng của người cha lại được bộc lộ rõ nhất. Nó lắng đọng ngân vang mãi trong lòng ta.

Sức ám ảnh của truyện ngắn “Chiếc lược ngà” được tạo ra bởi nội dung mẩu chuyện. Ngòi bút của Nguyễn Quang Sáng thật tinh ý trong việc thể hiện mọi cung bậc của cảm xúc, xây dựng tình huống truyện, sử dụng ngôn từ,… toàn bộ những điều đó đã góp phần làm nên sức sống của mẩu chuyện.

Tác phẩm khép lại nhưng tình phụ tử êm ấm, thiêng liêng, cao quý sẽ mãi là ngọn lửa lấp lánh sáng, sưởi ấm trái tim độc giả.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

5


Bình An

Bài văn phân tích nhân vật ông Sáu trong “Chiếc lược ngà” số 5

hoàn toàn có thể nói, ông Sáu là một người cha yêu thương con vô bờ bến. Ông anh dũng tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc. Ngày tạm biệt quê bước chân vào chiến trường đứa con gái bé xíu của ông mới lên một tuổi.

Bảy năm ròng rã ngoài chiến trường đã dấy lên trong ông khao khát được hội ngộ vợ con, được nghe con gọi một tiếng “ba”. “Xuồng vào bến, thấy một đứa bé độ tám tuổi, tóc cắt ngang vai, mặc quần đen, áo bông đỏ đang chơi nhà chòi dưới bóng cây xoài trước sân nhà, đoán biết là con, không thể chờ xuồng cập lại bến, anh nhún chân nhảy thót lên, xô chiếc xuồng tạt ra, khiến tôi bị chới với. Anh bước vội vàng với những bước dài, rồi dừng lại kêu to: Thu! Con!”.

Thế nhưng trước tình cảm đó bé Thu – con gái bé xíu của ông lại tỏ ra xa lánh, ngờ vực ông, nó nhất quyết không chịu gọi một tiếng “ba”. Dù vậy, trong suốt ba ngày về phép ông Sáu luôn tìm cách vỗ về, gần gũi con. Ông quan tâm, yêu chiều nó hết mực. Trong bữa cơm, ông gắp cho nó một miếng trứng cá vàng ươm nhưng nó lại bất ngờ hất văng miếng trứng khỏi bát.

Vì quá tức giận ông đã ra tay đánh nó nhưng chính hành động đó lại khiến ông day dứt cho tới mãi về sau.

Hết ba ngày phép, trước khi quay trở về chiến trường ông muốn ôm con, hôn con nhưng lại sợ nó giẫy lên bỏ chạy nên chỉ biết đứng đó nhìn nó với đôi mắt trìu mến xen lẫn buồn rầu.

Khi đứa con bất ngờ chạy đến ôm ông thật chặt và gọi một tiếng “ba” ông đã không kìm được xúc động. Đó là tiếng “ba” mà ông đã mong chờ ngần ấy thời gian. Ông Sáu một tay ôm chặt con, một tay rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc con. Còn gì cảm động hơn giờ phút cha con nhận lại nhau lại đó là giờ phút phải chia tay. Tiếng “ba” ấy của bé Thu cất lên không những gây xúc động cho người cha mà nó còn như một tiếng thét xé tan im lặng, xé lòng tất thảy mọi người.

Trở về chiến trường, nhớ lại lời hứa với bé Thu, ông Sáu đã ngày ngày làm tặng con gái một chiếc lược ngà xinh xắn. Có cây lược ông càng mong hội ngộ con. Chiếc lược ngà trở thành vật quý giá thiêng liêng đối với ông Sáu. Nó xoa nhẹ nỗi đau chiến tranh, nó chứa đựng biết bao tình cảm cha con sâu sắc. Nhưng rồi ông Sáu vẫn chưa kịp trao chiếc lược cho bé Thu đã hi sinh nơi chiến trường ác liệt. Trong giờ phút sau cùng, tình cha con bỗng bừng lên, anh đưa tay vào bên trong túi, trao lại cho người đồng chí của tôi chiếc lược ngà rồi vĩnh viễn ra đi.

Một người cha mong ngóng con suốt bảy năm chiến trường ròng rã, một người cha chỉ mong một lần được con mình gọi một tiếng “ba”, một người cha dành trọn nhớ thương để dành tặng con gái một món quà vậy mà đã mãi mãi nằm xuống nơi chiến trường lạnh giá. Chiến tranh quả thật đã quá tàn khốc với toàn bộ mọi người. Chiến tranh đã cướp đi sinh mạng biết bao người vô tội, khiến cho bao gia đình sống trong cảnh mẹ mất con, vợ mất ông xã, con mất cha. Cái giá mà chiến tranh để lại sẽ hằn sâu trong những người cho tới mãi về sau.

Bằng nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo, lối mô tả nội tâm nhân vật sắc bén cùng với những tình cảm hết sức chân thành Nguyễn Quang Sáng đã khắc họa nên hình tượng một người cha thật đẹp. Hình như ông Sáu cũng đó là nhân vật đại diện cho biết bao thế hệ cha anh thời đó. Họ vì tình yêu quê giang sơn mà sẵn sàng lên đường ra đi bảo vệ Tổ quốc, để lại sau lưng là gia đình thân yêu của tôi để rồi anh dũng hi sinh.

mẩu chuyện còn là bản cáo trạng đanh thép tố cáo tội ác mà chiến tranh đã gây ra cho biết bao người dân vô tội. Nó cũng là lời khẳng định rằng dù bom đạn chiến tranh có tàn khốc, quyết liệt đến đâu thì cũng không thể dập tắt được tình cảm cha con thiêng liêng trong trái tim mỗi người chiến sĩ. Vừa mang giá trị hiện thực, vừa toát lên chất nhân đạo ở từng câu chữ đã khiến “Chiếc lược ngà” trở thành tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Quang Sáng đồng thời cũng làm nên tên tuổi của ông.

Truyện “Chiếc lược ngà” và hình ảnh ông Sáu đã khơi gợi trong lòng ta bao ý nghĩa sâu sắc về sự hi sinh và hạnh phúc ở đời do những thế hệ cha anh đã đổ xương máu làm nên. Và bài học “uống nước nhớ nguồn” càng thêm thấm thía.

Bài văn phân tích nhân vật ông Sáu trong

6


Bình An

Bài văn phân tích nhân vật ông Sáu trong “Chiếc lược ngà” số 6

Nguyễn Quang Sáng là nhà văn Nam Bộ, những tác phẩm của ông chủ yếu viết cho con người và cuộc sống ở Nam Bộ. Trong số đó “Chiếc lược ngà” là một trong những truyện ngắn tiêu biểu được viết năm 1966 tại chiến trường Nam Bộ khi cuộc kháng chiến chống Mỹ ra mắt ác liệt, điều đáng lưu ý là truyện ngắn này viết trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh nhưng lại triệu tập nói về tình người, cụ thể là tình cha con, tình cảm ấy được ra mắt một cách sâu sắc cảm động từ 2 nhân vật bé Thu và ông Sáu, nhưng có lẽ xúc động và gây ám ảnh hơi cả với người đọc là tình cảm người cha- ông Sáu với đứa con gái của tôi.

Ông Sáu là người nông dân Nam Bộ giàu lòng yêu nước, lúc đi kháng chiến đứa con gái của ông sắp đầy một tuổi, mãi đến khi con gái lên tám tuổi ông mới có dịp về thăm nhà, thăm con. Nhưng bé Thu đã cự tuyệt tình cảm của ông chỉ vì trên mặt ông có vết thẹo khác với người cha trong bức hình mà em đã biết.

Đến phút chia tay ông mới đón nhận được tình cảm của con nhưng giây phút ấy quá ngắn ngủi. Vì nhiệm vụ, ông phải quay về chiến trường, ông lên đường với lời hứa sẽ mua cho con một cây lược. Chính trong hoàn cảnh ấy tình cảm ông giành cho con thật sâu nặng và cảm động.

Trước hết tình cảm của ông Sáu giành cho con được thể hiện phần nào trong chuyến về phép thăm nhà. Đến lúc được về ” cái tình cha con nôn nao trong lòng anh” Khát khao đốt cháy lòng ông lúc này là được gặp con và mong con gọi một tiếng ba để ông được sống trong tình cha con mà xưa nay nay ông từng mong đợi, vì thế mà khi xuống xuồng vào bến thấy một đứa bé chạc bảy đến tám tuổi, đoán biết la con không chờ xuồng cập bến, ông nhún nhảy thốt lên, xô chiếc xuồng tạt ra.

Anh bước vội vàng với những bước dài rồi dừng kêu to” Thu con” tiếng gọi của ông Sáu nghe thật xúc động. Nó chứa đựng bao tình cảm yêu thương và khát khao hội ngộ con. Nhưng thật trớ trêu bé Thu lại tỏ ra ngờ vực lảng tráng. Điều đó khiến ông cực kì đau đớn, vô vọng ”nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trong thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”.

Đặc biệt, mấy ngày ông Sáu ở nhà, ông chẳng dám đi đâu xa, lúc nào cũng vỗ về con, ông mong được nghe một tiếng ”ba” của con bé nhưng toàn bộ đều không trọn vẹn. Ông Sáu càng tỏ ra gần gũi con bao nhiêu thì con bé tỏ ra lạnh nhạt bấy nhiêu. Nó nhất định không chịu gọi ông là ”ba”, không nhờ ông chắt nước nồi cơm đang sôi, những lúc như vậy ông khổ tâm hết sức, yêu con ông không lỡ mắng mà chỉ ”nhìn con khe khẽ lắc đầu vừa cười”.

Nụ cười lúc này không phải là vui mà phản ảnh sự khổ tâm của ông ” có lẽ vì khổ tâm quá đến nỗi không khóc được nên phải cười vậy thôi. Sự mất mát quá trong tình cảm của ông đó là thảm kịch của chiến tranh, nó đã làm cho mặt ông đổi khác ”vết thẹo dài” nên con bé trông ông không thể giống trong hình với má nó.

Ông vẫn không nản lòng, vẫn quan tâm tới con, nhưng ông càng quyết tâm thì nó phản ứng càng dữ dội hơn, đó là trong bữa ăn ông gắp cái trứng cá to vàng để vào chén nó, tưởng nó sẽ hiểu được thành ý nhưng ngược lại nó liền ” lấy đũa soi vào chén rồi hất cái trứng cá ra, cơm văng tung tóe” lúc này ông bị con cự tuyệt hoàn toàn. Vì quá vô vọng không kịp suy nghĩ ” anh vung tay đánh vào mông nó và hét lên ”sao mày cứng đầu vậy hả”. Tình yêu thương con của ông trở thành bất lực.

Đến lúc chia tay, ông cũng muốn ôm con hôn con nhưng lại sợ nó từ chối và bỏ chạy nên ông chỉ nhìn con với đôi mắt trìu mến và buồn rầu nhưng rồi trước những biển hiện tình cảm mãnh liệt của con, ông thực sự xúc động khi con bé cất tiếng gọi ”ba”. Không kìm được xúc động và không muốn cho con nhìn thấy mình khóc, anh Sáu một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên tóc con. Giọt nước mắt của ông lúc này không vì đau khổ mà nó là ”giọt châu” rơi trong sự sung sướng hạnh phúc của một người cha yêu thương con sâu sắc.

Tình cảm yêu thương của ông Sáu được thể hiện triệu tập và sâu sắc ở phần sau của truyện, khi ông Sáu quay về chiến tranh. Sau khi chia tay với gia đình, ông Sáu cực kì nhớ con. Những lúc ấy ông lại thấy dằn vặt day dứt vì đã đánh con trong lúc nóng giận, rồi lời dặn của con: ”Ba về, ba mua cho con một cây lược nghe Ba” đã thôi thúc ông nghĩ đến việc làm một chiếc lược ngà để tặng cho con.

Khi tìm được khúc ngà voi ông đã cực kì vui mừng sung sướng “mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quà”. Vậy đấy, khi người ta “hóa thành” trẻ con lại đó là lúc người ta đang hiện lên cá tư cách người cha cao quý của tôi, rồi ông Sáu dồn hết tâm sức và tình yêu thương và chiếc lược ” những lúc rỗi, anh cưa từng chiếc răng lược thận trọng, tỉ mỉ và cố gắng như một người thợ bạc”.

Trên sống lưng lược có khắc một chữ nhớ mà ông gò lưng tẩn mẩn khắc từng nét “yêu nhớ tặng Thu con của ba” chiếc lược ngà trở thành kỉ vật thiêng liêng của ông Sáu là kết tinh của tình phụ tử mộc mạc đằm thắm sâu lặng. Nó làm dịu đi lỗi ân hận và chứa đựng bao tình cảm yêu mến nhớ thương mong đợi của người cha đến với đứa con xa cách ”cây lược ấy vẫn chưa chải được mái tóc của con nhưng như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh”.

Những đêm nhớ con anh anh mang chiếc lược ngà ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt. Lòng yêu thương con được kết tinh trong cây lược ngà ấy đã khiến cho người cha – người trở thành một nghệ nhân – nghệ nhân chỉ sáng tác ra một tác phẩm duy nhất của cuộc đời.

Nhưng rồi trong tình cảnh đau thương lại đến với ông Sáu, ông bị trúng đạn của giặc. Trong giờ phút sau cùng không kịp chăng chối lại điều gì, ông đưa tay lên túi, móc cây lược cho ông Ba- người bạn chiến đấu và nhìn bạn một hồi lâu, cái nhìn như một lời chăng chối ủy thác thiêng liêng là ước nguyện giữ gìn tình phụ tử muôn đời. Ông Sáu đã hi sinh nhưng tình cha con ở ông thì không thể nào chết được, tình cha con mãi thiêng liêng bất diệt.

Nhân vật ông Sáu người cha giàu tình yêu thương con đã để lại bao mến phục với độc giả, một phần nhờ cách xây dựng nhân vật của Nguyễn Quang Sáng, trước hết nhà văn đã đặt nhân vật vào tình huống truyện bất ngờ để bộc lộ nội tâm nhân vật ngoài ra tác giả chọn ngôi kể chuyện trong vai người bạn tri kỷ thiết của ông Sáu nên không những là người chứng kiến khách quan kể lại mẩu chuyện mà còn bày tỏ sự đồng cảm sẻ chia với nhân vật ông Sáu.

hoàn toàn có thể nói, chiến tranh đã lùi xa hơn ba mươi năm nhưng hình ảnh nhân vật ông Sáu và mẩu chuyện về ”Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng vẫn để lại bao ám ảnh day dứt trong lòng bạn đọc. mẩu chuyện ấy không những nói lên tình cha con thắm thiết sâu nặng của cha con ông Sáu, đặc biệt là tình cảm ông Sáu giành cho con, mà còn gợi cho người đọc nỗi đau thương mất mát của chiến tranh gây ra bao nhiêu gia đình, con người. Từ đó, ta càng có ý thức trân trọng giữ gìn tình phụ tử cao đẹp đồng thời trân trọng cuộc sống hòa bình đang được hưởng hôm nay.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

7


Bình An

Bài văn phân tích nhân vật ông Sáu trong “Chiếc lược ngà” số 7

Xuất thân là một người lính hoạt động ở chiến trường Nam Bộ từ thời kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Quang Sáng hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hòa bình. Chính sự gắn bó chặt chẽ ấy đã giúp ông khắc họa một cách chân thực và rõ nét hình tượng nhân vật ông Sáu – nhân vật chính trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà”. Truyện được coi là một trong những tác phẩm nổi trội nhất của Nguyễn Quang Sáng với sự thành công trong việc xây dựng hình tượng một ông Sáu giàu tình yêu thương con, yêu thương giang sơn.

phát hành năm 1966, khi tác giả đang hoạt động ở chiến trường Nam Bộ giữa những khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mĩ, tác phẩm được rút từ tập truyện ngắn cùng tên: Chiếc lược ngà. Truyện được kể theo ngôi thứ nhất, người kể chuyện là bác Ba- người bạn chiến đấu thân thiết của ông Sáu, nhờ đó, tác phẩm vừa đảm bảo được tính khách quan lẫn tính xác thực của sự việc được kể.

Là người kể lại mẩu chuyện, bác Ba hoàn toàn có thể dễ dàng bộc lộ được cảm xúc của bản thân, chủ động xen vào những comment, nhận xét để từ đó, làm nổi trội tình cha con trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. Dưới góc nhìn và lời kể của bác Ba, nhân vật ông Sáu hiện lên là một người cha trở về nhà sau tám năm xa cách bởi chiến tranh nhưng bé Thu- con gái ông Sáu lại không nhận thấy ba mình, đến lúc bé nhận thấy và bộc lộ tình cảm thắm thiết thì cũng là lúc hai ba con phải chia tay nhau. Trở về căn cứ, ông Sáu dồn hết tình yêu thương và niềm mong nhớ, làm cho con gái chiếc lược ngà, nhưng vẫn chưa kịp trao tận nơi thì ông đã hy sinh vì bảo vệ Tổ quốc.

Chiến tranh xảy ra, giang sơn lâm nguy, anh Sáu cũng như nhiều thanh niên, đàn ông khác đều xung phong lên đường đi đánh giặc. Ngày anh đi, bé Thu- con gái anh còn sắp đầy một tuổi, trong suốt khoảng thời gian gần chục năm trời ở chiến trường bom đạn khốc liệt, anh chỉ được nhìn thấy con gái qua nhưng Bức hình nhỏ hiếm hoi mà vợ anh mang đến mỗi lần liều mình đi thăm ông xã nơi tiền tuyến.

Khi có thời điểm được nghỉ, về thăm nhà, anh Sáu đã mong chờ biết nhường nào cái thời khắc được nhìn thấy con gái mình: “cái tình người cha cứ nôn nao trong người anh”. Trong giây phút đầu gặp gỡ, anh Sáu nhận biết con chỉ bằng linh cảm, nhưng đó là linh cảm của một người làm cha đã tám năm đằng đẵng chỉ được nhìn thấy con gái qua vài Bức hình nhỏ, nay trở về thăm nhà với niềm mong chờ và nỗi nhớ mãnh liệt: “đoán biết là con, không thể chờ xuồng cặp lại bến, anh nhún chân nhảy thót lên”.

Khao khát, mong chờ đến nôn nóng muốn gặp con: “anh bước vội vàng với những bước dài”, “vừa bước vừa khom người đưa tay đón chờ con”. Người cha ấy mong chờ đã bao lâu rồi thời khắc được ôm con vào lòng, xúc động, nghẹn ngào cất tiếng gọi đầy trìu mến: “Thu! Con”. Thế nhưng, trái ngược hoàn toàn với sự mong chờ của anh Sáu, đáp lại nỗi nhớ của anh lại là thái độ “ngơ ngác, lạ lùng” của bé Thu.

Anh Sáu, vẫn với “vẻ mặt xúc động ấy”, “hai tay vẫn đưa về phía trước” “giọng lặp bặp run run”: “Ba đây con!”. Câu nói được lặp lại tới hai lần đã diễn tả được trọn vẹn sự mong nhớ cùng đợi chờ, xúc động của người cha khi đứng trước đứa con gái nhỏ mình luôn nhớ nhung xưa nay, hoàn toàn chạm đến trái tim bạn đọc.

Nhưng chính nỗi xúc động đó đã khiến vết thâm sẹo dài trên má phải của anh Sáu đỏ ửng lên, khiến bé Thu sợ hãi: “mặt nó bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên”. Nỗi buồn, sự đau đớn, vô vọng đổ ập lên anh Sáu, “anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”.

Trở về nhà, con người ta sẽ được sống trong tình yêu thương tràn ngập, được cảm nhận sự quan tâm êm ấm từ những người thân trong gia đình, nhưng đối với anh Sáu, ba ngày ở nhà lại trở thành thật buồn bã, đau xót. Anh đã cố gắng gần gũi, bù đắp cho con sự thiếu thốn về tình cảm trong suốt tám năm xa cách, “lúc nào cũng vỗ về con. Nhưng càng vỗ về con bé càng đẩy ra”.

Trong hoàn cảnh éo le như thế, anh chỉ “nhìn con vừa khe khẽ lắc đầu vừa cười”. Khi quá khổ tâm, người ta thậm chí chẳng thể khóc được nữa, nên có lẽ đành cười vậy thôi nụ – cười chua xót, đau khổ của một người cha bị chính con gái mình xa lánh. Buồn bã là thế, đau xót là thế nhưng anh Sáu vẫn luôn tận tình quan tâm, chăm sóc bé Thu bằng toàn bộ tình yêu thương. Trong bữa cơm, anh Sáu gắp cho con một miếng trứng cá to vàng, đó là hành động chăm sóc bình thường của cha giành cho con.

Nhưng bé Thu không nhận thấy ba mình nên cũng từ chối mọi sự quan tâm từ anh Sáu. Nó hất cái trứng ra khỏi bát khiến cơm văng tung tóe khắp cả mâm, và vì quá tức giận, anh Sáu đã “vung tay đánh vào mông nó và hét lên: -Sao mày cứng đầu quá vậy, hả?”.

Hành động và lời nói của anh chỉ là sự tức giận bột phát, nhất thời sau những tức giận, vô vọng đến không thể kìm nén trong suốt hai ngày qua. Nỗi buồn bã, đau khổ của anh Sáu Hình như đến tận cùng khi chỉ còn một đêm nữa thôi, anh sẽ phải quay về căn cứ, rời xa vợ con.

sau cùng, dù không muốn, giây phút chia tay cũng đã đi vào. Anh Sáu bận sắp xếp đồ đạc rồi lại lo tiếp bà con, họ hàng đến chia tay nên không để ý nhiều đến con nữa. Thế nhưng ngay lúc anh chuẩn bị đi, bé Thu lại chạy đến ôm chầm lấy cổ anh và cất tiếng gọi ba mà anh Sáu đã mong chờ xưa nay nay. Sự buồn bã được thay thế bằng xúc động, hạnh phúc. Anh khóc. Khóc vì vui, vì hạnh phúc, khóc vì tiếc nuối khi giây phút chia tay đã cận kề.

Không muốn để con nhìn thấy những giọt nước của tôi bởi không muốn không khí buổi chia tay trở thành nặng nề, “anh Sáu một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt”. Chính anh cũng không muốn phải xa con, giá như thời gian cứ dừng lại mãi ở giây phút này, anh sẽ hoàn toàn có thể cảm nhận được tình yêu thương cùng niềm mong nhớ mà con gái anh giành cho người cha dấu yêu của tôi suốt những năm tháng qua.

Nhưng đó tất nhiên chỉ là một điều ước không thể trở thành thực sự, những giọt nước mắt tiếc nuối nhanh gọn được anh Sáu lau đi, bởi nếu để bé Thu nhìn thấy sự yếu ớt ấy, con bé sẽ không để cho anh đi. Giây phút chia tay cũng đó là thời khắc anh Sáu chính thức được sum họp với con gái. Thật éo le, đau đớn!

Mang theo tình yêu thương và lời hứa mua cho con chiếc lược ngà trở về căn cứ, khi nhặt được khúc ngà, anh Sáu đã “hớt hải chạy về, tay cầm khúc ngà đưa lên khoe với tôi. Mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quà”. Lời hứa với con gái sắp được hoàn thành, anh Sáu tràn ngập thú vui, hạnh phúc.

Ở giữa chiến trường máu lửa khốc liệt, anh càng mong nhớ con gái nhiều hơn nữa. Làm cho con cây lược bằng toàn bộ tình yêu thương và niềm mong nhớ, anh Sáu càng khát khao được trở về hội ngộ con: “Anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”. toàn bộ tình cảm của anh được gửi gắm ở “hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba””.

Với tình yêu thương và niềm mong nhớ con tha thiết, anh Sáu trở thành nghệ nhân một lần duy nhất trong cuộc đời. Chiếc lược ngà do chính tay mình làm ra Hình như đã giải tỏa được mối ân hận vì đã trót đánh con mà anh vẫn day dứt, dằn vặt xưa nay. Chiếc lược ngà đó là hình tượng của tình cha con, tình phụ tử thiêng liêng, bất diệt, cũng đó là kỉ vật mà anh Sáu để lại cho con gái trước lúc hy sinh nơi chiến trường khốc liệt.

Với lời văn giản dị, chân thành, nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã khắc họa nên nhân vật ông Sáu, nhân vật chính, cũng là nhân vật đóng vai trò cốt lõi làm nên thành công của tác phẩm. Ông Sáu hiện lên trong truyện ngắn khiến người đọc xúc động, nghẹn ngào với tình yêu thương con tha thiết, mãnh liệt, cùng với đó là tình yêu và sự hy sinh đối với độc lập, tự do của Tổ quốc.

mẩu chuyện khép lại, ông Sáu đã hy sinh nhưng chiếc lược ngà chắc chắn sẽ luôn ở bên bé Thu như sự chăm sóc, che chở của người cha giành cho con gái mình.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

8


Bình An

Bài văn phân tích nhân vật ông Sáu trong “Chiếc lược ngà” số 8

hoàn toàn có thể thấy được tác phẩm “Chiếc lược ngà’ đó là một trong những truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã viết thật xúc động, chân thực về tình cha – con và nỗi đau trong chiến tranh do quân giặc gieo rắc thời chống Mĩ. Ông Sáu được khắc họa đó đó là một trong những nhân vật thể hiện sâu sắc chủ đề ấy mà nhà văn gửi gắm.

Ông Sáu- đó là một người nông dân Nam Bộ giàu lòng yêu nước đã tham gia vào cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ ác liệt của dân tộc, và ông cũng đã anh dũng hi sinh. Ông Sáu đã ra đi đánh giặc từ năm 1946 mãi đến năm 1954, hòa bình lập lại, ông mới được về thăm quê một vài ngày.

Ngày ra đi bộ đội, đứa con gái bé xíu thân yêu của ông mới lên một tuổi, ngày về thì con đã 8, 9 tuổi. Hình như chính cái khao khát của một người lính khi đã xa nhà, những năm dài vào sinh ra tử được quay về quê, được hội ngộ vợ con thân yêu của tôi. Và nhất là khi được nghe con cất tiếng gọi “ba” một tiếng cũng không trọn vẹn.

Quả thực đó đó là thảm kịch thời chiến tranh không những riêng ông Sáu lúc bấy giờ. Và trong lúc chia tay vợ con lần thứ hai để bước vào một trận đánh đấu mới, ông Sáu ngay lúc này đây mới được một khoảnh khắc hạnh phúc khi đứa con gái ngây thơ đã hoàn toàn có thể”nhận thấy” ba mình và kêu thét lên: “Ba… ba!”. Ông Sau đã thật xúc động ôm con, ông như đã “rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc con”.

Đặc biệt hơn đó đó là ông Sáu đã ra đi với nỗi nhớ thương vợ con không thể nào kể xiết. Chiến tranh thật tàn khốc, bom đạn giặc đã làm thay đổi hình hài ông. Có lẽ rằng chính cái vết thẹo dài trên má phải – vết thương chiến tranh. Vết thương tàn khốc của chiến tranh cũng như đã làm cho đứa con gái thương yêu, rất thật là bé xíu không nhận thấy khuôn mặt người cha nữa.

Có lẽ rằng ông như cũng đã ra đi, mang theo như hình ảnh vợ con, với lời hứa mang về cho con gái chiếc lược ngày ông cũng đã kỳ công làm cho con. Ta như thấy được cùng với nỗi ân hận day dứt “sao mình lại đánh con ” Hình như cũng cứ giày vò ông mãi. hoàn toàn có thể thấy được rằng chính nỗi đau, nỗi nhớ thương và mất mát… do quân giặc mang đến cho ông Sáu, và cũng như đã cho bao người lính, cho bao bà mẹ, em thơ trên khắp mọi miền giang sơn ta có khi nào nguôi ngoai được.

Chính sự hi sinh của thế hệ đi trước để làm nên độc lập, thống nhất, dân chủ, hòa bình là vô giá. Vào thời điểm sau năm 1954, ông Sáu cũng không triệu tập ra Bắc, ông lại nhận nhiệm vụ mới ở lại miền Nam “nằm vùng” hoạt động bí mật hoạt động rất nguy hiểm. Và điều đáng nói ở đây trong những ngày ở rừng, ở cứ bị giặc bị khủng bố triền miên, ông đã nhặt được miếng ngà và tỷ mẩn làm thành một chiếc lược có khắc dòng chữ “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”.

Chiếc lược ngà với dòng chữ ấy Hình như cũng đã mang theo bao tình cảm sâu nặng của người cha đối với đứa con bé xíu. Ta như thấy được chính tình thương con của ông Sáu thật cực kì tha thiết. Điều đó Hình như cũng đã cho thấy ở ông Sáu cũng như hàng triệu chiến sĩ, đồng bào ta hi sinh chiến đấu vì giang sơn và dân tộc, họ hi sinh cũng chỉ vì hạnh phúc gia đình, vì tình vợ ông xã, tình cha con.

Chiếc lược ngà như một vật kí thác thiêng liêng của người lính về tình phụ – tử rất thật là sâu nặng mà bom đạn quân thù không thể nào tàn phá được. trong cả khi bị trúng đạn máy bay Mỹ bắn vào ngực, khi mà hấp hối, ông đã “đưa tay vào bên trong túi, móc cây lược” như cũng đã đưa cho bạn, ông như nhìn bạn hồi lâu như còn muốn nói nhiều thế nhưng ông tắt thở…

Và ông Sáu đã hi sinh trong những ngày đen tối cũng như gian khổ. Và đau đớn hơn đó đó là ngôi mộ ông là “ngôi mộ bằng phẳng như mặt rừng”. Nhưng Hình như cũng chỉ có “tình cha con là không thể chết được”. Ta như thấy được hình ảnh ông Sáu, hình ảnh người cha trong truyện Chiếc lược ngà sâu nặng tình cha – con.

Hình ảnh chiếc lược ngà với dòng chữ mãi mãi là kỉ vật, nó Hình như cũng đó là nhân chứng về nỗi đau, về những thảm kịch đầy máu và nước mắt đã để lại nhiều ám ảnh bi thương trong lòng ta. Ông Sáu Hình như cũng đó là người lính của một thế hệ anh hùng đi trước mở đường đã nếm trải nhiều thử thách, gian khổ và hi sinh.

Tựu chung lại ta như thấy được truyện “Chiếc lược ngà” và cả hình ảnh về ông Sáu- người cha đáng kính cũng như nhân vật bé Thu đã khơi gợi trong lòng ta bao ý nghĩ về tình cha con sâu nặng và cao đẹp nhất trong cả là trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. Và qua đó chính bài học “uống nước nhớ nguồn “càng thêm thấm thía đối với chúng ta.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Từ khóa: Top 8 Bài văn phân tích nhân vật ông Sáu trong “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng, Top 8 Bài văn phân tích nhân vật ông Sáu trong “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng, Top 8 Bài văn phân tích nhân vật ông Sáu trong “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *